Que thử nước tiểu 10 thông số Ezitell (LEU/NIT/URO/PRO/pH/BLO/SG/KET/BIL/GLU)
Que thử nước tiểu 10 thông số (Mẫu nước tiểu) là dạng tấm nhựa mỏng trên bề mặt có các vùng được phủ sẵn thuốc thử (Tẩm thuốc thử) tại các vị trí riêng biệt, độc lập. Xét nghiệm này được dùng để phát hiện định tính và bán định lượng một hoặc nhiều chất phân tích sau đây trong nước tiểu: Axit ascoricic (ASC), Creatinine (CRE), MicroAlbumin (ALB), Glucose (GLU), Bilirubin (BIL), Axit Ketone Acetoacetic (KET), Tỷ trọng nước tiểu (SG), Blood (BLO), pH, Protein (PRO), Urobilinogen (URO), Nitrit (NIT), Bạch cầu (LEU), Canxi (Ca). Que thử nước tiểu 10 thông số được sử dụng tại các phòng khám bệnh, cơ sở y tế (POCT) và phòng xét nghiệm. Tham khảo nhãn hộp đựng sản phẩm để biết danh mục chất phân tích cụ thể, so sánh với các chất phân tích với ô màu trên bảng màu để biết kết quả.

Glucose: Xét nghiệm này dựa trên phản ứng enzyme xảy ra giữa Glucose Oxyase, Peroxidase và chất tạo màu. Glucose đầu tiên được oxy hóa tạo thành axit Gluconic và Hydro Peroxide với sự hiện diện của Glucose Oxyase. Hydro Peroxide phản ứng với chất tạo màu Kali Iodua với sự hiện diện của Peroxidase. Mức độ oxy hóa của chất tạo màu xác định màu sắc được hình thành, trong khoảng từ xanh lục đến nâu. Glucose thường không phát hiện thấy trong nước tiểu. Một lượng nhỏ Glucose trong nước tiểu có thể được bài tiết ra qua thận. Nồng độ Glucose thấp, khoảng 100 mg/dL có thể được xem là bất thường nếu kết quả là chính xác.
Bilirubin: Xét nghiệm này dựa trên phản ứng cặp Azo của Bilirubin với Dichloroaniline diazotized trong môi trường axit mạnh. Mức Bilirubin thay đổi sẽ tạo ra màu nâu hồng tỷ lệ thuận với nồng độ của nó trong nước tiểu. Trong nước tiểu bình thường, không thể phát hiện được bilirubin kể cả bằng các phương pháp nhạy nhất. Ngay cả khi theo dõi Bilirubin cũng cần được kiểm tra thêm. Các kết quả không rõ ràng (Các màu khác với các khối màu âm tính hoặc dương tính hiển thị trên bảng màu) có thể chỉ ra rằng các sắc tố mật có nguồn gốc từ Bilirubin có trong mẫu nước tiểu và có thể bị che giấu phản ứng Bilirubin.
Ketone: Xét nghiệm này dựa trên Ketone phản ứng với Nitroprusside và axit Acetoacetic tạo thành sự thay đổi màu sắc từ màu hồng nhạt cho kết quả âm tính đến màu hồng đậm hơn hoặc màu tím cho kết quả dương tính. Bình thường Ketone không có trong nước tiểu. Một lượng Ketone phát hiện được có thể xuất hiện trong nước tiểu khi gặp tình trạng căng thẳng sinh lý như nhịn ăn, mang thai và tập vận động gắng sức thường xuyên. Trong chế độ ăn kiêng hoặc trong các tình huống chuyển hóa Carbohydrate bất thường khác, Ketone xuất hiện trong nước tiểu với nồng độ cao quá mức trước khi Ketone huyết thanh tăng cao.
Specific Gravity: Xét nghiệm này dựa trên sự thay đổi pKa rõ ràng của một số chất điện phân được tiền xử lý, có liên quan đến nồng độ ion. Chất chỉ thị khi có trong nước tiểu sẽ làm màu sắc thay đổi từ xanh lam đậm trong nước tiểu có nồng độ ion thấp đến xanh lục và vàng lục trong nước tiểu có nồng độ ion tăng cao. Mẫu nước tiểu lấy ngẫu nhiên có thể có Tỷ trọng thay đổi trong khoảng 1,003 – 1,035. Mẫu nước tiểu 24 giờ của người khỏe mạnh với chế độ ăn uống bình thường sẽ có Tỷ trọng nước tiểu là 1,016-1,022. Trong trường hợp tổn thương thận nặng, Tỷ trọng nước tiểu được cố định ở mức 1,010 là giá trị của dịch lọc cầu thận.
Blood: Xét nghiệm này dựa trên phản ứng giống như Peroxidase của Hemoglobin, gây xúc tác phản ứng của Diisopropylbenzen Dihydroperoxide và 3,3′,5,5′- Tetramethylbenzidine. Kết quả khoảng màu thay đổi từ cam đến xanh lục đến xanh đậm. Bất kỳ điểm màu xanh hoặc màu xanh lục hình thành trên vùng phản ứng trong khoảng 60 giây là cần lưu ý và mẫu nước tiểu cần kiểm tra thêm. Máu thường được tìm thấy, nhưng không phải luôn luôn thấy trong nước tiểu của phụ nữ đang có kinh nguyệt. Khi sự khác nhau rõ ràng về vết màu đọc được giữa bệnh nhân thì cần có đánh giá lâm sàng đối với những mẫu bệnh phẩm này.
pH: Xét nghiệm này dựa trên hệ thống chỉ thị kép cung cấp nhiều màu sắc bao phủ toàn bộ phạm vi pH nước tiểu. Màu sắc từ cam đến vàng và xanh lá cây đến xanh lam. Phạm vi dự kiến đối với các mẫu nước tiểu bình thường của trẻ sơ sinh là pH 5 – 7,9 . Phạm vi dự kiến đối với các mẫu nước tiểu bình thường khác là pH 4,5 – 8, với kết quả trung bình là pH 6.
Protein: Phản ứng này dựa trên hiện tượng được gọi là “protein error” của chỉ số pH, trong đó một chỉ số có tính đệm cao hơn sẽ đổi màu khi có sự hiện diện của Protein (anion) vì chỉ số này giải phóng ion Hydro thành Protein. Tại một giá trị pH không đổi, sự thay đổi của bất kỳ màu xanh nào là do sự hiện diện của Protein trong mẫu bệnh phẩm. Khoảng màu từ vàng đến vàng lục cho kết quả âm tính và xanh đến xanh lục cho kết quả dương tính. Thận bình thường có thể bài tiết 1 – 14 mg/dL Protein. Một màu khớp với bất kỳ ô màu nào hoặc đậm hơn cho thấy dấu vết đáng kể của lượng Protein niệu. Cần kiểm tra lâm sàng để đánh giá ý nghĩa và tầm quan trọng của kết quả theo dõi.
Urobilinogen: Xét nghiệm này dựa trên phản ứng Ehrlich biến đổi giữa pDiethylaminobenzaldehyde và Urobilinogen trong môi trường axit mạnh để tạo ra màu hồng. Urobilinogen là một trong những hợp chất chính được tạo ra trong quá trình tổng hợp Heme và là một chất thông thường trong nước tiểu. Khoảng giá trị mong đợi của xét nghiệm này với nước tiểu bình thường là 0,2-1,0 mg/dL (3,5-17 μmol/L). Kết quả 2,0 mg/dL (35 μmol/L) có thể có dấu hiệu lâm sàng và mẫu bệnh phẩm phải được đánh giá thêm.
Nitrit: Xét nghiệm này tùy thuộc vào sự chuyển đổi Nitrat thành Nitrit bởi hoạt động của vi khuẩn gram âm trong nước tiểu. Trong môi trường axit, Nitrit trong nước tiểu phản ứng với axit pArsanilic tạo thành hợp chất Diazonium. Hợp chất Diazonium lần lượt kết hợp với 1 N-(1- naphthyl) ethylenediamine để tạo ra màu hồng. Nitrite không được tìm thấy trong nước tiểu bình thường. Nitrite sẽ dương tính trong một số trường hợp nhiễm trùng, tùy thuộc vào thời gian mẫu nước tiểu được lưu giữ trong bàng quang trước khi lấy mẫu. Tỷ lệ truy xuất các trường hợp dương tính với xét nghiệm Nitrit dao động trong khoảng 40% trường hợp thời gian ủ của nhiễm khuẩn trong bàng quang ngắn, và trong khoảng 80% khi thời gian ủ tại bàng quang trong diễn ra ít nhất 4 giờ.
Leukocytes: Xét nghiệm này cho thấy sự hiện diện của Esterase bạch cầu hạt. Các este này tách este axit amin Pyrazole sinh ra để giải phóng các dẫn xuất Hydroxyl Pyrazole. Sau đó Pyrazole phản ứng với muối Diazonium để tạo ra màu be – hồng đến tím. Mẫu nước tiểu thông thường cho kết quả âm tính. Kết quả vết (trace) có thể có ý nghĩa lâm sàng đáng nghi ngờ. Khi kết quả vết xảy ra, nên xét nghiệm lại bằng mẫu mới của cùng bệnh nhân đó. Dấu vết lặp đi lặp lại và kết quả dương tính có ý nghĩa lâm sàng

HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG QUE THỬ NƯỚC TIỂU 10 THÔNG SỐ
Để que thử nước tiểu 10 thông số, mẫu nước tiểu và/hoặc mẫu chứng đạt đến nhiệt độ phòng (15-30°C) trước khi xét nghiệm.
1. Lấy que thử ra khỏi hộp kín và sử dụng càng sớm càng tốt. Đóng chặt hộp ngay lập tức sau khi loại bỏ số lượng que thử cần thiết. Nhúng hoàn toàn vùng thuốc thử của que thử vào nước tiểu tươi, trộn đều và tháo ngay que thử để tránh hòa tan thuốc thử. Xem hình minh họa 1 bên dưới.
2. Trong khi tháo que thử ra khỏi nước tiểu, hãy gạt cạnh của que thử vào mép hộp đựng nước tiểu để loại bỏ lượng nước tiểu dư thừa. Giữ que thử ở vị trí nằm ngang và đưa mép của que thử tiếp xúc với vật liệu thấm nước (ví dụ: khăn giấy) để tránh trộn lẫn các hóa chất từ các khu vực thuốc thử lân cận và/hoặc làm bẩn tay với nước tiểu. Xem hình minh họa 2 bên dưới.
3. So sánh các vùng thuốc thử với các khối màu tương ứng trên nhãn hộp đựng tại thời điểm quy định. Giữ que thử gần với các khối màu và khớp cẩn thận. Xem hình minh họa 3 bên dưới. Lưu ý: Kết quả có thể được đọc tối đa 2 phút sau thời gian quy định.

Máy Chăm Sóc Da Mặt 5 Trong 1 M-3397 






Đánh giá
Chưa có đánh giá nào.